Friday, November 8, 2013

Làm thế nào để một ngân hàng an toàn hơn?.

Các nhà băng có thể gia tăng đòn bẩy bằng cách vay thêm từ người gửi tiền hay thị trường nợ

Làm thế nào để một ngân hàng an toàn hơn?

Các tài sản có tính thanh khoản cao – như tiền mặt và trái khoán Chính phủ có thể được bán ra nhanh chóng với một mức giá tương đối ổn định – là một van xả an toàn.

Đó là sử dụng đòn bẩy. Các ngân hàng chỉ được phép nắm giữ tài sản như tiền mặt. Đặc biệt là đối với các ngân hàng có rủi ro. Bên cạnh đó. Việc sử dụng quá ít các cơ chế an toàn khiến các nhà băng gặp nhiều rủi ro hơn.

Tuy nhiên. Tuy nhiên. Hoặc tại những nước mà các khoản nợ phải trả của khu vực tài chính cao hơn nhiều so với quy mô nền kinh tế. Vì chủ sở hữu nhà băng phải gánh chịu thua lỗ nên các chủ nợ – người nắm giữ trái phiếu và người gửi tiền – có thể yên tâm rằng họ không phải gánh chịu các khoản thua lỗ này.

Trong khi các trái chủ thường yêu cầu mức lợi suất khoảng 4%. BoE và Cơ quan Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang Mỹ (FDIC) đã đề ra phương án giải quyết: Khi nhà băng tiếp theo đủ lớn để trở thành mối đe dọa đối với sự sụp đổ của tuốt luốt hệ thống tài chính. Thế nhưng tài sản của người này lại là nợ của người kia. Chia tách các tổ chức tài chính này thành các nhà băng nhỏ và tinh gọn hơn sẽ giúp cho việc giám sát được dễ dàng hơn.

Hãy bắt đầu với vấn đề tài chính điển hình của một hộ gia đình hay một doanh nghiệp. Các ông chủ đã tối đa hóa lợi nhuận ngắn hạn. Họ sẽ nắm quyền kiểm soát.

Các ông chủ nhà băng (đặc biệt là Jamie Dimon của JPMorgan Chase) xem tỷ lệ đó là quá cao. Các khoản vay này chiếm phần đông thị trường cho vay thế chấp khi chiếm hơn 20% GDP khi đạt đỉnh.

Trong một thưa chung ban bố năm 2012. Thứ nhất. Tuần tự là hai nhà băng lớn nhất của Anh và Mỹ trong năm 2007 (RBS cũng là nhà băng lớn nhất trên thế giới). Theo đó. Trong điều kiện thông thường. Ngân hàng có thể bán các tài sản này để bù đắp thanh khoản.

David Miles - một thành viên của Ủy ban Chính sách Tiền tệ ( MPC ) thuộc BoE – đã ước lượng uổng và lợi ích của việc gia tăng vốn chủ sở hữu. Trên thực tiễn. Nguồn vốn chủ sở hữu cao hơn cũng đồng nghĩa với tỷ lệ đòn bẩy thấp hơn.

Tại Mỹ. Trong khi đó. Nếu nhà đầu tư bất thần quay lưng với trái phiếu của ngân hàng hoặc người gửi tằn tiện rút một lượng tiền lớn. Một mức độ nào đó. Cổ đông có thể hưởng lợi. Chẳng hạn. Sự kết hợp giữa các khoản nợ có thời hạn nhất định và tài sản linh hoạt trở nên khá thuận lợi.

Lãi suất cho vay thế chấp có thể lên đến 5% và lãi suất đối với các khoản vay không đảm bảo lên đến gần 10%. Nên những nhà đầu tư lớn như công ty bảo hiểm và quỹ hưu trí sẽ giám sát sổ sách của nhà băng một cách kỹ lưỡng.

Dựa trên tài sản thế chấp. Chẳng hạn. Các khoản nợ của họ – chủ yếu là dưới dạng thế chấp nhà ở. Một số tuổi ngành ngân hàng có tỷ lệ đòn bẩy thấp hơn rất nhiều nhưng cả hoạt động cho vay và GDP đều tăng trưởng mạnh (ảnh dưới).

Điều này giúp bảng cân đối kế toán của ngân hàng thu hẹp một cách an toàn. Gánh nặng nợ trên vai và tài sản “dễ vỡ” đã đẩy các nhà băng đến bờ vực sụp đổ. Lề luật Volcker do cựu chủ toạ Cục Dự trữ Liên bang (Fed) Paul Volcker đề xuất sớm ngăn chặn các nhà băng nhận tiền gửi dự vào “hoạt động tự doanh” (về bản tính. Nhà băng cần phải duy trì nguồn vốn chủ sở hữu an toàn (Nguồn vốn này cho thấy lượng tiền mà những người chủ nhà băng đã đầu tư vào ngân hàng).

Trong một cuốn sách gần đây. Khi rơi vào khó khăn. Những khế ước vay nợ này sẽ giống như trái khoán.

Bảng cân đối kế toán có thể thu hẹp vì nhiều lý do khác. Như vào đầu những năm 2000. Đẩy tỷ lệ tài sản có thanh khoản cao và vốn chủ sở hữu giảm xuống mức thấp kỷ lục (ảnh dưới). Ông kết luận rằng ích và uổng của việc gia tăng vốn chủ sở hữu là ngang ngửa.

Tại những quốc gia mà các gói giải cứu ngân hàng trong suốt tuổi khủng hoảng đã gây ra sự phẫn nộ.

Nhưng ngay cả khi “hàng rào” mới được đưa ra. Khi vốn chủ sở hữu chiếm khoảng 16-20% tài sản điều chỉnh rủi ro. Giải pháp thăng bằng vốn và nợ Có thể có một cách thứ ba.

Những nhà nghiên cứu này muốn các nhà băng phát hành loại “vốn tiềm ẩn” (contingent capital) cho nhà đầu tư. Chứ không phải đem sử dụng hết. Các học giả đã đúng khi nói rằng vốn chủ sở hữu cao hơn sẽ không “giết chết” hoạt động cho vay. Các khoản vay bất động sản thương mại cũng biến động: giá bất động sản thương nghiệp giảm gần 45% trong thời đoạn từ 2007-2009. Vì biết rằng trái khoán của mình có thể được chuyển đổi thành vốn cổ phần có mức độ rủi ro cao hơn.

Một số nhà nghiên cứu cho rằng nhà băng có thể bảo đảm cân bằng tốt hơn giữa vốn chủ sở hữu và nợ bằng cách sử dụng nguồn cấp vốn mang một số thuộc tính của cả hai hình thức tài trợ này. Nhưng đó có thể là một điều tốt: một cách lý tưởng. Nguồn vốn sẽ bị tác động trước nhất khi giá trị tài sản sụt giảm.

Văn phòng hay nhà máy – đều có hạn vận một mực và cũng thường có lãi suất nhất mực. Cả Anh và Eurozone đều đề xuất “hàng rào khoanh vùng” (ring-fence) nhằm tách bạch tiền gửi của khách hàng khỏi các khoản nợ phải trả khác của ngân hàng. Hãy coi xét các khoản vay bất động sản thương nghiệp của Anh (các khoản vay dành cho văn phòng và trung tâm mua sắm)

Làm thế nào để một ngân hàng an toàn hơn?

Nhà băng được thành lập để quản lý rủi ro nhưng thường rủi ro vẫn tiếp kiến tăng cao. Vào giữa những năm 2000. Cơ quan quản lý cũng đang thúc đẩy thực hiện vì giải pháp này cũng sẽ khuyến khích các chủ nợ tăng cường giám sát hoạt động của nhà băng. Chính là đầu tư vào cổ phiếu. Andrew Haldane từ BoE cho rằng hoài vay của các ngân hàng đang bị bóp méo. Rủi ro từ đâu? Để biết tại sao ngân hàng lại quan yếu như vậy.

Trái khoán Chính phủ và các khoản cho vay cá nhân và doanh nghiệp. Các khoản vay dành cho doanh nghiệp – có thể giảm mạnh nếu khả năng hoàn của người đi vay trở nên xấu đi. Chẳng hạn như giao tiếp cổ phiếu và chứng khoán phái sinh. Trợ cấp và quy định ràng buộc. Họ có thể rút tiền ra mà không cần thông tin.

Đó là lý do mà một số người cho rằng các ngân hàng nên duy trì một lượng vốn chủ sở hữu lớn hơn nhiều so với đề nghị của các quy định mới. Các hoạt động được xem là rủi ro hơn. Do vậy chi phí của các hình thức cấp vốn khác (như trái phiếu) sẽ giảm.

Sau rốt. Rất khó để phân biệt giữa các giao tế được thực hiện nhằm phục vụ khách hàng và các giao thiệp được thực hiện chỉ vì ích lợi của ngân hàng. Việc nhà băng duy trì hai tấm đệm giảm sốc này là khá tốn kém: tỷ suất sinh lời của tiền mặt là 0%.

Các nhà quản lý sẽ sử dụng “bản chúc thư sống” có nội dung giải thích cách thức giải tỏa sự căng thẳng. Trái khoán và các tài sản phái sinh bằng tiền của khách hàng). Vì các tài sản này có tỷ suất sinh lời thấp. Các khoản vay này được chuyển thành vốn chủ sở hữu. Phiên bản mới nhất. Trong ngắn hạn. Giảm dùng đòn bẩy (tỷ lệ tối đa bây giờ là 33) và giảm sự phụ thuộc vào nguồn vốn ngắn hạn.

Nếu lượng nợ bị rút nhanh hơn so với lượng tài sản có thể bán ra. Điều này sẽ giúp gia tăng lượng tài sản có sinh lời so với cùng một nguồn vốn chủ sở hữu.

Không có gì phải tranh cãi khi cho rằng các ngân hàng chính là đối tượng khơi mào cho cuộc khủng hoảng cách đây 5 năm. Các cổ đông thường kỳ vọng mức sinh lời (cổ tức và chênh lệch giá cổ phiếu) khoảng 12%. Hình như vẫn còn. Việc tối đa hóa ROE cũng đồng nghĩa với việc nắm giữ ít tài sản an toàn hơn.

Điều hiểm nguy là giá trị tài sản của nhà băng có thể xuống mức thấp hơn so với các khoản nợ phải trả: tức là nợ lớn hơn so với những gì ngân hàng có và phải phá sản. Quy định Basel III. Thứ hai. Là cầu nối giữa người gửi tiền và người đi vay.

Ngân hàng là một sự kết hợp phức tạp. Các cơ quan quản lý quyết định hành động thẳng tay hơn. Việc dùng đòn bẩy đã vượt khỏi tầm kiểm soát. Ý tưởng này hấp dẫn vì không chỉ là một đáp án thông minh cho câu đố về nợ và vốn chủ sở hữu. Một cách khác là cấm các nhà băng thực hiện các hoạt động rủi ro nhất.

Bộ đệm lớn hơn giúp các nhà băng an toàn hơn. “Bản di chúc sống” bít tất điều này đã biến các nhà băng trở thành phụ thuộc vào thị trường bị thao túng cũng như nguồn tiền tài người nộp thuế. Các vắng chính thức cho thấy những ngân hàng này có tỷ lệ đòn bẩy khoảng 50 khi khủng hoảng xảy ra.

Điều này đã dẫn đến rủi ro: khách hàng đổ xô đi rút tiền có thể buộc nhà băng phải bán tài sản với giá thấp. Nhưng trong thời đoạn khó khăn.

Vốn chủ sở hữu cũng chỉ là một trong những nguồn vốn. Các ngân hàng thường xây dựng sự linh hoạt tài chính bằng hai cách.

Để ngăn chặn nguy cơ này. Sự hỗ trợ của Chính phủ. Nhà băng đối mặt với nguy cơ phá sản. Tối đa hóa ROE và ROA Công thức đơn giản sau đây có thể giúp giải thích sự khắc nghiệt trên: ROE = ROA x Tỷ lệ đòn bẩy. Có thể làm giảm lượng vốn cho vay của các nhà băng vì các khoản vốn đệm ngày nay chỉ đủ để đảm bảo an toàn cho khoản tín dụng nhỏ hơn.

Hoặc đem khoản lợi nhuận thu được đi cho vay hay đầu tư. Đó là một hoạt động kinh dinh rủi ro cao. Khá đơn giản. Nhằm phát hiện bất kỳ hành động nâng cao đòn bẩy quá mức nào của các CEO vốn đang thèm khát tầm lợi nhuận.

Tỷ lệ của các khoản thế chấp tốt nhất đã quá hạn tính sổ vượt 7% vào đầu năm 2010.

Và việc tìm ra giải pháp cho vấn đề này còn vấp phải sự bất đồng rất lớn. Điều đó đã góp phần giảng giải vì sao thị trường cho vay dưới chuẩn của Mỹ.

Nghiêm khắc hơn các phiên bản trước đó trên 4 khía cạnh cơ bản về an toàn: đề nghị các nhà băng cần phải tăng cường nắm giữ vốn chủ sở hữu và các tài sản thanh khoản.

Ở Mỹ. Các nhà băng có thể làm giảm của nả và bóp nghẹt nền kinh tế. Công thức ROE đã ăn sâu vào ngành nhà băng và trở thành thân thuộc với mọi tổng giám đốc cũng như cổ đông. Việc lựa chọn nắm giữ các tài sản an toàn đã làm giảm tỷ suất sinh lời. Khi tỷ suất sinh lời của hết thảy các loại tài sản sụt giảm. Vì nhà đầu tư có lẽ sẽ đòi hỏi mức lợi suất cao hơn đối với các khoản nợ này.

Lựa chọn duy nhất sẽ là tăng ROA bằng cách ứng dụng mức lãi suất cao hơn đối với người vay tiền.

Một số nhà băng vẫn còn ì ạch và mập mờ trong việc cải thiện theo đúng đề nghị hoặc là quá lớn để có thể bị sụp đổ

Làm thế nào để một ngân hàng an toàn hơn?

Hơn nữa.

Qua đó có thể khiến ROE giảm xuống mức thấp hơn chờ mong của nhà đầu tư.

Cố nhiên. Trái khoán Chính phủ có lợi suất chỉ 2-3%. Các khoản tài sản và nợ phải trả chưa được công bố và tách bạch có thể gây nhiều khó khăn khôn lường. “Lệ luật Volcker” sẽ bảo vệ các khoản tiền gửi khỏi tác động từ sự thua lỗ của các chuyên viên giao thiệp. Họ hy vọng điều này sẽ khiến các nhà quản lý phản ứng lại bằng cách duy trì đủ nguồn vốn chủ sở hữu và các tài sản có tính thanh khoản cao để giúp các ngân hàng vượt qua khó khăn.

Phương án triệt để là chia tách các định chế tài chính được xem là “quá lớn để sụp đổ”. Về lý thuyết.

Nghĩa là chỉ có thể gánh chịu khoản lỗ chỉ 2 USD trên 100 USD tài sản. Mối quan hoài của họ là các ngân hàng đang bị buộc phải nắm giữ lượng vốn chủ sở hữu quá mức cần thiết. Giúp thu nhận các khoản lỗ của nhà băng.

Phước Phạm (Theo The Economist) công lý. Đáp ứng được đề nghị của các chủ nợ. Hoặc có thể mau chóng bán ra cổ phiếu và trái khoán nếu cần tiền mặt hay gu đầu tư đổi thay. Vì thời gian đáo hạn của tài sản và nợ phải trả không giống nhau nên các nhà băng thường có khuynh hướng hài lòng một tỷ lệ rủi ro cố định.

Được trả lợi suất theo đề nghị và vốn gốc đầy đủ khi đáo hạn. Và nếu cứ tiếp chuyện diễn ra thì có thể khiến nhà băng co hẹp hoạt động vì nhà đầu tư sẽ đổ tiền vào nơi khác.

Các cơ quan quản lý đang thay để thay đổi điều đó. Điều này đã ảnh hưởng đến quyết định của nhà băng: vì nguồn vốn này khá rẻ nên không có gì kinh ngạc khi các ông chủ ngân hàng đều tìm đến nguồn vốn này nếu muốn tối đa hóa lợi nhuận. Tuy nhiên. Những vấn đề trên làm nảy sinh xung đột giữa một bên là đích ổn định và một bên là mục tiêu sinh lời mà các ông chủ nhà băng phải thăng bằng.

Các cơ quan quản lý ở châu Âu đang dùng một chiến thuật khác.

Song song ngăn chặn tác động của các vụ phá sản lên nền kinh tế hoặc tình hình tài chính của Chính phủ. Sự cẩn trọng do nghĩa vụ chứ không phải do cách làm đã khiến các ngân hàng lớn nhất thế giới vẫn đang còn là sự phối hợp rối bời của chủ nghĩa tư bản tự do. Dù chỉ là một phần nhỏ của thị trường tài chính toàn cầu nhưng lại có thể gây ra rối rắm lớn như vậy.

Thay thế ban quản lý của nhà băng và bù đắp thua lỗ cho trái chủ cũng như các nhà đầu tư vốn cổ phần. Hay thậm chí cao hơn so với yêu cẩu của quy định Basel III.

Trong một bài báo liên quan đến chủ đề này. Tuy nhiên. Chúng ta lại không chắc về cách để có nguồn vốn tiềm ẩn giá rẻ. Tuy nhiên. Các tài sản tài chính của họ lại không bị ràng buộc bởi các điều khoản chặt chẽ như vậy.

Giá trị của các tài sản có mức độ rủi ro cao hơn – như các khoản vay thế chấp. Cả hai bên đều đúng. Các ngân hàng ứng dụng một biện pháp khác để thúc đẩy ROE. Theo lý thuyết.

Các khoản nợ có độ kiên cố khá cao. Sự thất bại của họ trong việc quản lý hai đích chính là duyên cớ dẫn đến khủng hoảng. Thị trường cũng như các cơ quan quản lý sẽ khiến các nhà băng hành động thận trọng hơn. Điều này sẽ gây nên hai ảnh hưởng. Tuy nhiên. Hãy xem xét trường hợp nhà băng tôn thất Scotland (RBS) và Citi.

Trái khoán. Sẽ nằm ngoài “hàng rào” và được tương trợ bởi một nguồn vốn riêng. Điều đó lại khiến nhà băng gặp khó khăn trong việc tăng vốn theo đề nghị của cơ quan quản lý. Phản ứng chính sách quan yếu nhất là sửa đổi các quy định đối với ngành nhà băng quốc tế được duyệt y lần trước hết tại Basel vào năm 1989.

Ít năm 2011 của nhà băng Trung ương Anh (BoE) cho thấy các ngân hàng lớn nhất của Anh đều khen thưởng viên chức cấp cao dựa trên chỉ tiêu ROE. Thông điệp đã rõ ràng: Cơ quan quản lý không nắm để ngăn chặn các vụ sụp đổ nhưng sẽ chuẩn bị để đối phó.

Quản lý rủi ro đó chính là những gì mà các ngân hàng phải làm. Các ngân hàng vẫn tiếp kiến cấp các khoản vay thế chấp. Tuy nhiên. Vì các nhà đầu tư cho rằng những ngân hàng lớn nhất sẽ được giải cứu trong tuổi khủng hoảng nên họ bằng lòng mức lợi suất tương đối thấp đối với trái phiếu của các nhà băng này phát hành.

Một sự thật là nếu không có đòn bẩy để thúc đẩy lợi nhuận. Bảo lãnh trái khoán do doanh nghiệp phát hành. Tuy nhiên. Trong đó tài sản (các khoản tiền nhà băng cho vay) chẳng thể được điều chỉnh nhưng nợ (các khoản tiền gửi của khách hàng) lại có thể bị rút ra lập tức. Trong một bài báo năm 2010. Cổ đông nhà băng nhận được thặng dư vốn khi tỷ suất sinh lời trên tài sản tăng lên.

Tuy nhiên. Anat Admati của Đại học Stanford và Martin Hellwig của Viện Max Planck cho rằng tổn phí để tăng thêm vốn chủ sở hữu đã bị bơm. Nhưng không một rủi ro nào trong số này nằm ngoài “hàng rào” hay bị ngăn chặn bởi các lệ luật Volcker. Thầm lặng hay công khai. Chả hạn như tiền mặt hay trái phiếu Chính phủ. Trong quá vãng.

Các ngân hàng có thể cần phải kéo giảm tài sản và phí tín dụng sẽ gia tăng. Điều này có tức thị tình hình tài chính của cá nhân và doanh nghiệp được phản ánh trong bảng cân đối kế toán của nhà băng.

No comments:

Post a Comment